7 Pháp luật & cuộc sống - Thứ Ba 9-12-2025 phapluat@phapluattp.vn Các nước quy định thế nào? Singapore Năm 2015, Tòa Thương mại quốc tế Singapore (SICC) được thành lập, là một phân ban thuộc Tòa án Thượng thẩm và là một bộ phận của Tối cao Pháp viện Singapore. SICC thụ lý các vụ việc mang tính “quốc tế và thương mại”. HĐXX của SICC quy tụ đội ngũ thẩm phán đa dạng, bao gồm thẩm phán trong nước và thẩm phán nước ngoài. Hiện nay, SICC có 11 thẩm phán quốc tế đến từ cả hệ thống dân luật và thông luật trên toàn cầu. SICC áp dụng các thông lệ quốc tế trong giải quyết tranh chấp thương mại. Liên quan đến việc bổ nhiệm thẩm phán, theo khoản 4 Điều 95 Hiến Pháp Singapore, việc bổ nhiệm thẩm phán do tổng thống quyết định dựa trên lời khuyên từ thủ tướng. Người được bổ nhiệm phải từ 65 tuổi trở lên và đáp ứng các điều kiện về chuyên môn. Trung Quốc Năm 2018, Tòa Thương mại quốc tế Trung Quốc (CICC) được TAND Tối cao Trung Quốc (SPC) thành lập để xét xử các vụ án thương mại quốc tế. CICC số Một đặt tại Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông; CICC số Hai đặt tại Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Các vụ việc do CICC thụ lý được xét xử bởi hội đồng gồm ba thẩm phán trở lên. Các quy định liên quan đến hoạt động của CICC có hiệu lực từ ngày 1-1-2024 đã đưa ra ba điều kiện để cho phép các bên lựa chọn CICC làm tòa xét xử, bao gồm: Tranh chấp phải mang tính thương mại quốc tế; thỏa thuận lựa chọn tòa án phải được lập bằng văn bản; giá trị tranh chấp phải hơn 300 triệu NDT (42,5 triệu USD). Thẩm phán CICC phải sử dụng được cả tiếng Trung và tiếng Anh nhưng trên thực tế quá trình xét xử chỉ diễn ra bằng tiếng Trung. Mọi phán quyết của CICC đều có hiệu lực chung thẩm, không được kháng cáo. Dubai (UAE) Tòa Tài chính quốc tế Dubai (DIFC) là hệ thống tòa án hai cấp, xét xử bằng tiếng Anh trong hệ thống tòa án Dubai. Khác với các tòa tiếng Ả Rập trong hệ thống tòa án Dubai, tòa DIFC áp dụng các nguyên tắc và thủ tục của thông luật thay cho dân luật. Tòa DIFC sẽ áp dụng bất kỳ hệ thống pháp luật nào do các bên lựa chọn hoặc nếu không có thỏa thuận thì tòa sẽ quyết định luật áp dụng. Luật sư nước ngoài có thể tương đối dễ dàng được cấp quyền tranh tụng trước tòa, miễn là sử dụng thành thạo tiếng Anh. Đội ngũ thẩm phán của tòa DIFC chủ yếu đến từ nhiều hệ thống pháp luật án lệ quan trọng, bao gồm Úc, Anh và Xứ Wales, New Zealand, Malaysia và Singapore. THẢO VY Thách thức đã đi qua hàng chục năm xét xử các tranh chấp tài chính quốc tế phức tạp. Bên cạnh đó, luật sư quốc tế được đánh giá cũng là nguồn nhân lực rất cần khai thác. Họ cũng là nguồn tài nguyên mạnh và dễ tiếp cận nhất; có lợi thế về ngoại ngữ, kinh nghiệm hợp đồng quốc tế, tranh tụng trọng tài và sự am hiểu thông luật trong thực tiễn. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất khi chuyển từ luật sư sang thẩm phán là sự chuyển đổi tư duy từ “bảo vệ thân chủ” sang “trung lập và công bằng”, cùng với vấn đề xung đột lợi ích. Trọng tài viên có kinh nghiệm giải quyết tranh chấp quốc tế cũng là một nhóm có mức độ tương thích rất cao với mô hình tòa án chuyên biệt. Họ đã quen với việc xét xử bằng tiếng Anh, áp dụng luật nước ngoài, sử dụng chứng cứ chuyên gia và giải quyết tranh chấp nhanh, linh hoạt. Trong giai đoạn đầu vận hành IFC, đây có thể là lực lượng nòng cốt để “gánh” những vụ việc phức tạp. Cuối cùng, đó là giảng viên luật và nhà khoa học có uy tín tại các trường luật, viện nghiên cứu lớn của Việt Nam. Những đối tượng này có ưu thế về nền tảng lý luận, luật so sánh và khả năng hệ thống hóa học thuật. Tuy nhiên, hạn chế của nhóm này là hầu hết thiếu kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết tranh chấp tài chính quốc tế lớn và phức tạp. Mặc dù vậy, họ lại có năng lực nghiên cứu và các kiến thức sâu rộng về pháp luật, qua đó có thể luận giải các vấn đề lý thuyết phức tạp. Có thể khẳng định rằng tòa án chuyên biệt tại IFC sẽ khó có thể vận hành thành công nếu Việt Nam không xây dựng được một “thế hệ thẩm phán mới” đáp ứng chuẩn mực tư pháp quốc tế. Ngành tư pháp vì vậy cần có một chiến lược dài hạn, vững chắc, rõ ràng và khả thi để phát triển đội ngũ thẩm phán Việt Nam. Nếu được thiết kế và triển khai một cách bài bản, chiến lược này không chỉ bảo đảm cho IFC vận hành hiệu quả, ổn định và có tính dự đoán cao, mà còn góp phần tạo ra một “cuộc cách mạng về chất lượng” đối với đội ngũ thẩm phán Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập tư pháp toàn cầu.• (*) PGS-TS Trần Việt Dũng đồng thời là cố vấn cao cấp DL&Partners, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) Ý kiến TS PHAN PHƯƠNG NAM, Phó Trưởng khoa Luật thương mại Trường ĐH Luật TP.HCM: Cần cơ chế thu hút người giỏi Để thu hút người giỏi như những người có uy tín quốc tế, từng làm việc tại High Court London, SIAC hoặc DIFC, tôi cho rằng dự thảo luật tập trung vào các yếu tố cạnh tranh toàn cầu. Có thể học hỏi từ mô hình Dubai (thuê thẩm phán Anh ban đầu, dần thay bằng nội địa) và cân nhắc một số nội dung: Ưu đãi tài chính và linh hoạt: Thù lao cạnh tranh, hỗ trợ visa, nhà ở và di chuyển; không yêu cầu thôi chức nước ngoài, chỉ cam kết độc quyền khi xét xử vụ việc. Điều này giúp thu hút các thẩm phán “từng là partner của Magic Circle” hoặc chuyên gia từ quỹ đầu tư lớn. Môi trường làm việc quốc tế: Xét xử bằng tiếng Anh, áp dụng thông luật (án lệ, tranh tụng mạnh), thủ tục rút gọn (6-18 tháng/vụ) và không có giám đốc thẩm/tái thẩm (như quy định tại Điều 34 dự thảo), tạo điểm dừng pháp lý rõ ràng. Đẩy mạnh tòa án điện tử và hợp tác với các trung tâm quốc tế (Singapore, Anh) để tăng uy tín. Quảng bá và mạng lưới: TAND Tối cao có thể hợp tác với các hiệp hội luật sư quốc tế (IBA, AIJA) để tuyển dụng, ưu tiên ứng cử viên từ các nước thân thiện (Anh, Singapore, Mỹ, Úc). Giai đoạn đầu (2026-2028), mục tiêu 30%-50% thẩm phán nước ngoài, dần giảm xuống 20% sau 10 năm qua đào tạo nội địa. PGS-TS ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM: Đề xuất quy định tỉ lệ thẩm phán nước ngoài Trên thế giới có hai mô hình cơ bản để giải quyết các tranh chấp liên quan đến TTTC quốc tế. Thứ nhất là tòa án chuyên biệt như mô hình của Dubai - Dubai International Financial Centre Courts; thứ hai là mô hình tích hợp hệ thống tư pháp hiện hữu của quốc gia và có bộ phận chuyên biệt, chẳng hạn như mô hình Commercial List của Hong Kong, Commercial List là một tòa án chuyên biệt thuộc hệ thống Courts of First Instance. Việt Nam đã chọn mô hình tòa án chuyên biệt là hệ thống vận hành độc lập (có cả sơ thẩm và phúc thẩm), tuy thuộc hệ thống TAND Việt Nam. Thẩm quyền của tòa án chuyên biệt là độc lập và bản án, quyết định phúc thẩm không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Với những đặc thù như trên có thể thấy có hai yêu cầu quan trọng đặt ra đối với thẩm phán của tòa án chuyên biệt là trình độ ngoại ngữ và kiến thức pháp luật và kỹ năng áp dụng thông luật. Trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng thẩm phán nước ngoài cũng là một giải pháp đáng để cân nhắc trong khi chờ đào tạo đội ngũ thẩm phán trong nước. Dù vậy, tòa án chuyên biệt cũng là hệ thống xét xử thuộc hệ thống TAND, do vậy không thể (và cũng không nên) trông chờ hoàn toàn vào đội ngũ thẩm phán nước ngoài. Thậm chí cần khống chế một tỉ lệ nhất định thẩm phán Việt Nam và thẩm phán nước ngoài, đủ để kiểm soát được việc xét xử diễn ra bên trong khuôn khổ của tòa án chuyên biệt. Song song đó, giải pháp cấp bách là phải cử đội ngũ Việt Nam học tập trực tiếp và chuyên sâu về kỹ năng áp dụng thông luật cũng như kinh nghiệm xét xử đối với các tranh chấp trong khuôn khổ TTTC quốc tế. Làm thế nào để đảm bảo rằng khi tòa án chuyên biệt đi vào vận hành thì lực lượng thẩm phán Việt Nam và thẩm phán nước ngoài có thể song song thực hiện các công việc có liên quan đến việc vận hành tòa án chuyên biệt. Tòa Tài chính quốc tế Dubai (DIFC). Ảnh: GOVERNMENT OF DUBAI
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==