7 Pháp luật & cuộc sống - Thứ Hai 5-1-2026 NHẪN NAM Vừa qua, TAND TP Cần Thơ đã phát hành bản án phúc thẩm xử vụ tranh chấp hợp đồng (HĐ) ủy quyền, HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ), HĐ vay tài sản, HĐ thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và HĐ tín dụng, giữa nguyên đơn là ông NVB, bị đơn là một văn phòng công chứng (VPCC) và hai cá nhân gồm ông Đ và ông T. Vụ án được xét xử phúc thẩm do có kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là một ngân hàng. Người chết ký tên vào hợp đồng ủy quyền Theo hồ sơ, nguyên đơn trình bày do việc kinh doanh gặp khó khăn, nợ xấu ngân hàng nên ông được giới thiệu biết ông Đ làm việc ở một ngân hàng, cho vay lãi suất thấp. Khi gặp nhau, ông Đ nói sẽ ứng tiền ra giải chấp nợ ngân hàng rồi lấy giấy đất của nguyên đơn ra, ông Đ giữ sổ hồng và sẽ cho nguyên đơn vay 750 triệu đồng. Ông Đ nói sẽ lo mọi giấy tờ, thủ tục. Nguyên đơn (ông B) chỉ việc ký tên, cung cấp thông tin các loại giấy tờ… Ngày 5-2-2021, ông Đ điện thoại kêu ông B đến VPCC để ký HĐ ủy quyền. Cuối ngày, ông Đ đưa cho ông B 750 triệu đồng. Sau đó, mỗi tháng ông Đ đều đến nhận tiền lãi 11 triệu đồng, một thời gian thì không thấy ông Đ đến, ông B cũng không biết tìm ở đâu… Ông B đến VPCC xin trích lục thì có HĐ ủy quyền, vợ ông đã chết cũng ký tên trong HĐ ủy quyền. Sau đó, ông còn phát hiện cùng ngày ký HĐ ủy quyền thì ông Đ đã sử dụng HĐ này để chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T với giá ghi trong HĐ là 970 triệu đồng, sửa đổi, bổ sung thành 4,7 tỉ đồng. Ông B tìm mọi cách liên lạc nhưng ông Đ trốn tránh. Do đó, ông B khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu HĐ ủy quyền; hủy HĐ chuyển nhượng đất, đại diện ủy quyền là ông Đ và ông T và hủy HĐ sửa đổi, bổ sung HĐ chuyển nhượng với giá 4,7 tỉ đồng; hủy HĐ thế chấp giữa vợ chồng ông T và ngân hàng. Ông B đồng ý trả lại cho ông Đ số tiền vay 750 triệu đồng đã nhận. Bị đơn VPCC xác định có chứng nhận HĐ ủy quyền giữa vợ chồng ông B và ông Đ, theo đúng quy định của pháp luật. Xử sơ thẩm, TAND quận Cái Răng cũ đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, tuyên bố vô hiệu cả ba HĐ ủy quyền, HĐ chuyển nhượng và HĐ thế chấp. Ngân hàng có trách nhiệm giao trả lại cho ông B và những người thừa kế của vợ ông bản chính giấy đất và làm thủ tục xóa đăng ký thế chấp. Trường hợp ngân hàng không thực hiện thì ông B và những người thừa kế của vợ ông được quyền làm thủ tục xóa thế chấp và cấp lại giấy đất… Ngân hàng không phải người thứ ba ngay tình Sau phiên sơ thẩm, phía ngân hàng có kháng cáo. Xử phúc thẩm, TAND TP Cần Thơ đã bác yêu cầu kháng cáo, sửa một phần án sơ thẩm liên quan việc ông B vay ông Đ 750 triệu đồng và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B như trên. Tòa phúc thẩm nhận định xuất phát từ việc vay 750 triệu đồng nên ông B ký HĐ ủy quyền cho ông Đ đối với thửa đất và căn nhà của vợ chồng ông B. Tuy nhiên, vợ ông B đã mất năm 2019 nên thời điểm ký HĐ ủy quyền thì người ký không phải là vợ ông B. Mặt khác theo biên nhận thì việc ủy quyền đảm bảo cho việc vay tiền. Theo tòa, do chủ thể ký HĐ ủy quyền không đúng người và việc ủy quyền là giả tạo nhằm mục đích che giấu việc vay 750 triệu đồng nên HĐ ủy quyền vô hiệu, theo các điều 177, 122, 124 BLDS năm 2015. Tuy nhiên, HĐ vay tài sản giữa ông B và ông Đ vẫn có hiệu lực nên buộc ông B trả lại 750 triệu đồng cộng lãi kèm theo. Tòa cho rằng việc ký kết HĐ chuyển nhượng giữa ông Đ với vợ chồng ông T là giả tạo. Vì trước thời điểm nhận chuyển nhượng thì căn nhà trên đất đã bị ông B đập bỏ từ năm 2020 nhưng HĐ lại ghi nhận chuyển nhượng cả nhà và đất. Sau đó, HĐ sửa giá thành 4,7 tỉ đồng là không phù hợp giá thật vì tài sản chỉ còn đất trống, nên khi nhận chuyển nhượng thì ông T không được bàn giao tài sản để sử dụng, chứng minh không có việc chuyển nhượng thực tế. Mặt khác, các HĐ chuyển nhượng đều ghi ông Đ đại diện ủy quyền cho cả vợ ông B trong khi bà này đã chết nên việc đại diện cho bà này ký HĐ là không đúng. Do đó, HĐ chuyển nhượng cũng bị vô hiệu. Liên quan đến HĐ thế chấp tài sản giữa ông T với ngân hàng, tòa cho rằng trước thời điểm thế chấp là năm 2020 ông B đã đập bỏ căn nhà nhưng khi nhận thế chấp, ngân hàng lại ghi nhận toàn bộ căn nhà đã phá bỏ là không đúng thực tế hiện trạng tài sản. Đồng thời, khi thẩm định tài sản ngày 1-2-2021, lúc này tài sản thế chấp vẫn là vợ chồng ông B đứng tên, còn ông T chưa ký HĐ chuyển nhượng nhưng phía ngân hàng không làm việc trực tiếp với ông B, cũng không minh rõ nguồn gốc đất, trong khi người dẫn đi xem tài sản là ông T và ông Đ. Từ đó, tòa xác định ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình theo khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015. Do đó, HĐ thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất bị vô hiệu, ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp này là không có cơ sở chấp nhận.• Tòa cho rằng trước thời điểm thế chấp là năm 2020, ông B đã đập bỏ căn nhà nhưng khi nhận thế chấp, ngân hàng lại ghi nhận toàn bộ căn nhà đã phá bỏ là không đúng thực tế hiện trạng tài sản… Người liên quan là ngân hàng trình bày có cấp tín dụng cho vợ chồng ông T vay số tiền 3,7 tỉ đồng để mua nhà đất... và đã giải ngân. Để bảo đảm cho nợ vay, vợ chồng ông T thế chấp cho ngân hàng QSDĐ và tài sản (vốn dĩ là của ông B như nêu trên). Ngoài ra, một công ty có bảo lãnh trả nợ cho vợ chồng ông T theo đúng kỳ hạn của ngân hàng… Trong quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông T không trả nợ theo HĐ đã ký kết, vi phạm nghĩa vụ thanh toán; tạm tính đến ngày 29-3-2022, các khoản tổng cộng là 4 tỉ đồng. Nếu vợ chồng ông T không thanh toán được nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp và yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay… Ngân hàng không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông B. TAND Tối cao giải đáp thắc mắc về hội thẩm nhân dân phapluat@phapluattp.vn Ngân hàng không “ngay tình” nên hợp đồng thế chấp vô hiệu Tòa chỉ ra các lỗi của ngân hàng khi đi thẩm định tài sản nhận thế chấp và cho rằng không phải là người thứ ba ngay tình nên hợp đồng thế chấp bị vô hiệu. TAND Tối cao vừa ban hành văn bản trả lời kiến nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM. Nội dung kiến nghị về việc với mô hình chính quyền địa phương hai cấp thì không còn tổ chức hành chính cấp huyện, do đó các quy định về hội thẩm nhân dân (HTND) cấp huyện không còn hiệu lực. HTND là thành phần bắt buộc trong hoạt động xét xử tại tòa án. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có quyết định về việc chuyển đổi HTND từ cấp huyện sang cấp khu vực dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho công tác tổ chức xét xử. Do đó, cử tri kiến nghị sớm xem xét, ban hành quy định về HTND khu vực phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, nhằm bảo đảm hoạt động xét xử được thực hiện đúng quy định của pháp luật, liên tục và hiệu quả. Về nội dung kiến nghị nêu trên, TAND Tối cao thấy rằng việc chuyển đổi HTND cấp huyện sang thực hiện nhiệm vụ xét xử tại TAND khu vực đã được quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị quyết 225/2025/QH15 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức TAND, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND, các luật tố tụng và luật khác có liên quan. Cụ thể, HTND được bầu để thực hiện nhiệm vụ xét xử tại TAND cấp huyện theo quy định của Luật Tổ chức TAND số 34/2024/QH15 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xét xử tại TAND khu vực. HTND được bầu để thực hiện nhiệm vụ xét xử tại TAND cấp tỉnh tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xét xử cho đến khi HTND cấp tỉnh bầu HTND nhiệm kỳ mới. Chánh án TAND cấp tỉnh quyết định số lượng, danh sách HTND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ xét xử tại TAND cấp tỉnh, TAND khu vực. Theo TAND Tối cao, căn cứ quy định nêu trên, một số HTND cấp tỉnh do chánh án TAND cấp tỉnh quyết định, HTND cấp huyện đã tham gia xét xử tại các TAND khu vực từ ngày 1-7-2025, bảo đảm hoạt động xét xử của các TAND khu vực được thực hiện đúng quy định của pháp luật. YẾN CHÂU Quang cảnh một phiên tòa hình sự. Ảnh minh họa: TB
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==