039-2026

13 Đời sống xã hội - Thứ Hai 2-3-2026 doisongxahoi@phapluattp.vn PGS-TS TRẦN TRỌNG DƯƠNG Công nghệ số đang tạo ra cơ hội chưa từng có trong việc lưu giữ và chia sẻ di sản văn hóa. Tuy nhiên, cần có các quy định của pháp luật chặt chẽ hơn để vừa quảng bá được di sản số, vừa tránh nguy cơ thất lạc, sai lệch hoặc bị thương mại hóa ngoài tầm kiểm soát. Tránh tình trạng mỗi nơi một kiểu Số hóa di sản không chỉ là kỹ thuật mà còn là phương thức bảo tồn mới. Khi một văn bản cổ, hiện vật hay công trình kiến trúc được quét, ghi chép và lưu trên nền tảng số, nó bước vào “trạng thái tồn tại thứ hai” là không gian dữ liệu số. Giá trị di sản lúc này nằm trong các tệp tin có thể sao chép, chia sẻ và chỉnh sửa. Điều này giúp di sản vượt giới hạn địa lý và thời gian, tiếp cận nhiều người hơn. Tuy nhiên, nguy cơ đánh mất tính xác thực cũng hiện hữu. Mô hình 3D nếu thiếu thông tin nguồn, có thể khiến người xem hiểu sai về niên đại hoặc cấu trúc. Văn bản Hán Nôm chụp lên mạng mà không đối chiếu chuẩn có thể dẫn đến sai lệch trích dẫn, nghiên cứu. Nhiều dự án hiện nay chú trọng “làm đẹp” mô phỏng sinh động nhưng thiếu cơ sở học thuật và quy trình kiểm duyệt khiến di sản số dễ biến thành sản phẩm minh họa, mất giá trị nghiên cứu và lưu trữ. Di sản văn hóa vốn thuộc cộng đồng hoặc Nhà nước quản lý nhưng dữ liệu số lại nằm trong tay đơn vị thực hiện: Viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ hay nhóm cá nhân. Ai sở hữu dữ liệu, ai được khai thác, ai chịu trách nhiệm bảo mật? Nếu doanh nghiệp được thuê số hóa di sản lưu dữ liệu trên máy chủ riêng, quyền lưu trữ và công bố khi hợp đồng kết thúc thuộc về ai? Nếu đơn vị tự ý sử dụng sản phẩm số vào mục đích thương mại, cơ quan quản lý có căn cứ pháp lý can thiệp không? Hiện nay, Luật Di sản văn hóa (có hiệu lực từ ngày 1-7-2025) chỉ có thuật ngữ “số hóa di sản”, chưa định nghĩa “di sản số”. Các quy định về bản quyền và sở hữu trí tuệ mới áp dụng cho tác phẩm, sáng chế, phần mềm, chưa tính đến dữ liệu hình ảnh, mô hình, bản quét di sản, bản phỏng dựng hay phục chế số. Đây là nguy cơ “mất di sản lần hai”: Di sản được bảo tồn dạng số nhưng có thể bị thất lạc, xóa bỏ hoặc chiếm hữu hoặc sản phẩm số Nhà nước đầu tư không có cơ chế công bố online cho cộng đồng sử dụng. Ngoài ra, năng lực lưu trữ và quản lý dữ liệu di sản ở Việt Nam hiện đang rời rạc. Mỗi đơn vị, địa phương, bảo tàng triển khai riêng, định dạng khác nhau, thiếu kết nối và chia sẻ. Chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, đảm bảo dữ liệu lưu trữ an toàn và truy cập lâu dài. Di sản số phải là tài sản công, được quản lý như kho lưu trữ quốc gia. Dữ liệu số hóa cần bàn giao, đăng ký và lưu tại hệ thống tập trung do cơ quan văn hóa chủ trì. Chỉ khi đó bảo tồn mới bền vững, tránh tình trạng mỗi nơi một kiểu, dự án kết thúc dữ liệu bị xóa hoặc không truy cập được. Cần liên thông và an ninh dữ liệu Theo tôi, cần có chiến lược quốc gia về di sản số, quy định rõ vai trò cơ quan quản lý, cơ chế hợp tác công - tư, nguyên tắc sử dụng dữ liệu, liên thông dữ liệu, an ninh dữ liệu. Mọi sản phẩm số hóa, dù do ai thực hiện, phải có cơ chế bàn giao, đăng ký lưu trữ, tránh dữ liệu rơi vào “vùng xám”. Số hóa không chỉ là bảo tồn mà còn định hình ký ức tập thể. Nếu không có hành lang pháp lý vững chắc, di sản số sẽ trở thành mảnh đất hỗn tạp, ký ức văn hóa phân tán, thương mại hóa hoặc thất lạc. Số hóa di sản là xu hướng tất yếu nhưng phải nhìn nhận với tinh thần học thuật và trách nhiệm văn hóa. Mỗi bản quét, tệp dữ liệu chứa giá trị lịch sử và tri thức. Quản lý đúng cách, đó là kho báu tri thức vô tận; thiếu chuẩn mực và bảo vệ, đó sẽ là ảo ảnh, ký ức bị đánh mất lần nữa.• VIẾT THỊNH ghi sản văn hóa trở thành nguồn lực quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần quảng bá giá trị di sản văn hóa trong nước và quốc tế. . Ở góc độ quản lý nhà nước, theo bà số hóa di sản cần chú trọng điều gì khi triển khai? + Từ góc độ quản lý nhà nước về di sản văn hóa, cũng như với vai trò là đơn vị đầu mối của Bộ VH-TT&DL trong triển khai số hóa di sản văn hóa, trước hết cần tập trung vào việc chuẩn hóa, liên thông và chia sẻ dữ liệu số. Điều này đòi hỏi phải xây dựng và ban hành hệ thống quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật chung, bảo đảm thống nhất về di sản Số hóa di sản cần tránh rủi ro pháp lý Số hóa di sản mở ra cơ hội bảo tồn chưa từng có nhưng cần có khung pháp lý chặt chẽ hơn. Đẩy mạnh số hóa di sản Nghị định 308/2025 (có hiệu lực từ ngày 15-1-2026) quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Di sản văn hóa đã dành một chương quan trọng để quy định rõ về chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa. Nghị định 308/2025 được kỳ vọng sẽ giúp di sản Việt Nam phát huy giá trị trong bối cảnh mới. Điểm mới nổi bật của Nghị định 308/2025 là đẩy mạnh số hóa di sản, thích ứng với yêu cầu của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn mới. Nghị định nhấn mạnh nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình chuyển đổi số là không gây tổn hại đến tính nguyên gốc, tính toàn vẹn của di sản văn hóa và bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu, đơn vị quản lý. Hạ tầng kỹ thuật phục vụ số hóa phải đáp ứng yêu cầu về lưu trữ, liên thông, an toàn và bảo mật. Công chúng tham quan, đặc biệt là giới trẻ, rất thích thú với các sản phẩm ứng dụng công nghệ tại di tích. Ảnh: VIẾT THỊNH quy trình thực hiện, về định dạng dữ liệu, phương thức cập nhật và cơ chế truy xuất, sử dụng, khai thác; đồng thời thiết lập hệ thống liên thông dữ liệu giữa trung ương và địa phương, giữa các lĩnh vực chuyên ngành, hướng tới tích hợp vào nền tảng dữ liệu số quốc gia. Đây là cơ sở quan trọng để cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức có thể cùng tiếp cận, khai thác dựa trên dữ liệu di sản văn hóa, đáp ứng các quy định theo pháp luật về di sản văn hóa và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm dữ liệu đạt tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Song song với đó, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo cơ chế, chính sách vững chắc cho số hóa di sản văn hóa, nhất là về quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và các quyền liên quan đối với sản phẩm số; cơ chế khai thác, sử dụng di sản văn hóa trên môi trường điện tử, cũng như khung pháp lý rõ ràng, ổn định để thúc đẩy hợp tác công - tư trong lĩnh vực này. Ngoài ra, phải có cơ chế phân bổ ngân sách và huy động nguồn lực minh bạch, hiệu quả, bao gồm tài chính, nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật, nhằm bảo đảm tính khả thi, tính liên tục cho các nhiệm vụ chuyển đổi số di sản văn hóa. Để các nhiệm vụ trên được triển khai đồng bộ và hiệu quả, vai trò của Nhà nước là then chốt trong chỉ đạo, định hướng và điều phối, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ sinh thái di sản văn hóa số toàn diện, phục vụ phát triển bền vững. . Xin cảm ơn bà.• PGS-TS Trần Trọng Dương (Trường Ngoại ngữ - Du lịch, ĐH Công nghiệp Hà Nội) từng dành 10 năm nghiên cứu các di sản kiến trúc - mỹ thuật thời Lý. Tháng 10-2020, ông cùng Sen Heritage đã công bố bản số hóa kiến trúc Một Cột - chùa Diên Hựu bằng công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường và trải nghiệm tương tác nhập vai. Năm 2021, sản phẩm phỏng dựng Tu Di tòa Thích Ca Sơ Sinh của nhóm cũng đã được đưa vào ứng dụng trong nghi lễ tắm Phật và Vesak thường niên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiện ông và nhóm đang thực hiện dự án “Diện kiến Phật hoàng” số hóa bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ.

RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==