3 thoisu@phapluattp.vn Thời sự - Thứ Hai 2-3-2026 Nghị quyết 79 đặt mục tiêu đến năm 2030, có 50 DNNN vào nhóm 500 DN lớn nhất Đông Nam Á; 1-3 DNNN vào nhóm 500 DN lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn, DNNN mạnh, quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế. Đây là mục tiêu tham vọng, đòi hỏi nỗ lực rất lớn từ Nhà nước và DN. Trước hết phải lựa chọn đúng lĩnh vực trọng yếu và DN trọng điểm. Các ngành, lĩnh vực được lựa chọn phải thực sự là mạch máu của nền kinh tế, đồng thời là những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn hoặc chưa đủ điều kiện tham gia, chưa đủ năng lực triển khai. Với lĩnh vực này, DNNN cần đóng vai trò mở đường, tạo nền tảng ban đầu và dẫn dắt chuỗi công nghiệp. Còn với DN, phải là những DN hoạt động trong các ngành, lĩnh vực then chốt của đất nước, đặc biệt có năng lực phát triển, làm chủ công nghệ nền tảng; có khả năng làm chủ chuỗi giá trị. Quan trọng là phải lan tỏa, dẫn dắt và kết nối các DN thuộc các thành phần kinh tế khác cùng tham gia - tức là DNNN phải đóng vai trò như vốn mồi, kích hoạt và dẫn dắt nguồn lực đầu tư của toàn xã hội. Khi đã xác định được hai điều trên, lúc này đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước và bản thân DNNN phải điều chỉnh tư duy quản lý, tư duy đầu tư và tầm nhìn phát triển trong giai đoạn mới. Nghị quyết 79 có thể coi là bệ phóng thể chế mới để KTNN mở đường, dẫn dắt và kiến tạo tăng trưởng. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi và thiết lập quy trình xem xét độc lập. Đây là yếu tố rất quan trọng, đòi hỏi phải thật sự đổi mới tư duy quản lý, chuyển từ “sợ sai” sang “quản trị rủi ro”. Thách thức lớn nhất là chuyển tinh thần cải cách thành quy định của pháp luật đủ rõ, đủ mạnh nhưng vẫn linh hoạt, tránh thiết kế chính sách theo hướng an toàn, nặng kiểm soát rủi ro. Điểm quan trọng là Nghị quyết 79 đặt ra yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ khu vực KTNN với yêu cầu nâng chất thay vì mở rộng lượng. Hiện nay, Việt Nam đã có một số tập đoàn nhà nước lớn trong các lĩnh vực then chốt như viễn thông, năng lượng, tài chính ngân hàng… Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 79 sớm được thể chế hóa và triển khai quyết liệt vào cuộc sống sẽ tạo “cú hích” để hình thành một số DNNN đủ thế và lực vươn tầm trên đấu trường quốc tế với “thước đo” là chất lượng quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng hội nhập quốc tế, hiệu quả sử dụng vốn. Nghị quyết 79 xác định rõ vai trò then chốt của các ngân hàng thương mại nhà nước trong việc ổn định hệ thống, điều tiết thị trường tiền tệ, cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế; đồng thời đi đầu về quy mô, năng lực quản trị, trình độ công nghệ và chuẩn mực hoạt động. Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết 79 là cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn để tăng vốn điều lệ cho DNNN thay vì nộp về ngân sách. Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, đây được coi là bước đột phá về tư duy đầu tư vốn của Nhà nước. Trong nhiều năm qua, các ngân hàng nhà nước, trong đó có Vietcombank, phải cân đối giữa nhu cầu giữ lại lợi nhuận để tăng vốn và nghĩa vụ nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách. Nghị quyết 79 tháo gỡ nút thắt này, mở rộng không gian và công cụ đầu tư vốn cho Nhà nước thông qua việc cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN để bổ sung vốn điều lệ cho DNNN, bao gồm các ngân hàng thương mại nhà nước. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hệ số an toàn vốn của nhóm ngân hàng nhà nước hiện thấp hơn nhóm ngân hàng tư nhân và thấp hơn nhiều ngân hàng trong khu vực, trong khi yêu cầu về chuẩn mực và cạnh tranh quốc tế ngày càng cao. Đây cũng là cơ sở quan trọng để chủ động hơn trong chiến lược tăng vốn trung và dài hạn; qua đó tạo dư địa tăng trưởng quy mô, đầu tư mạnh cho công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, triển khai Nghị quyết 79 hiệu quả và đồng bộ, cần tiếp tục tháo gỡ một số điểm nghẽn thực thi. Thứ nhất, cần bảo đảm tính đồng bộ trong chính sách về đầu tư vốn của Nhà nước tại ngân hàng thương mại nhà nước. Ngoài ra, cần cho phép áp dụng linh hoạt các hình thức tăng vốn. Thứ hai, cần phân định rõ hơn giữa hoạt động kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì lợi nhuận của ngân hàng thương mại nhà nước. Thứ ba, cần có cách tiếp cận dài hạn hơn trong đánh giá các ngân hàng trụ cột quốc gia, không chỉ dựa trên kết quả lợi nhuận ngắn hạn mà bổ sung tiêu chí về vai trò điều tiết thị trường, năng lực chống chịu, mức độ hội nhập quốc tế và đóng góp cho ổn định kinh tế vĩ mô. MINH TRÚC ghi Ông DOÃN THANH TUẤN, Phó Cục trưởng Cục Phát triển DNNN (Bộ Tài chính): Mục tiêu tham vọng, đòi hỏi nỗ lực lớn GS-TS TRẦN THỌ ĐẠT, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân: Chuyển từ “sợ sai” sang “quản trị rủi ro” Chủ tịch HĐQT Vietcombank NGUYỄN THANH TÙNG: Bước đột phá về tư duy đầu tư vốn của Nhà nước truy được trách nhiệm Nghị quyết 79 là cam kết rõ ràng: Tài sản công phải được quản trị như tài sản của dân và phải dùng đúng mục tiêu, sinh lợi hợp lý và minh bạch để kiểm soát… Đi đầu lĩnh vực rủi ro cao vì lợi ích công . Nghị quyết yêu cầu DNNN tiên phong trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, làm chủ công nghệ lõi. Vì sao khu vực này cần đi đầu ở các lĩnh vực rủi ro cao, vốn lớn? + DNNN đi đầu không phải vì đặc quyền, mà vì đây là những thị trường có thất bại thị trường rõ rệt, gắn với an ninh, chủ quyền và sức chống chịu của nền kinh tế. Thứ nhất, vốn rất lớn, thời gian hoàn vốn dài, rủi ro chính sách - công nghệ cao. Chỉ riêng Quy hoạch điện VIII đã ước tính nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới giai đoạn 2021-2030 khoảng 134,7 tỉ USD; giai đoạn 2031-2050 khoảng 399,2-523,1 tỉ USD. Với cấu trúc rủi ro như vậy, thị trường vốn tư nhân thường đòi lãi suất hoặc điều kiện bảo lãnh cao hoặc chỉ chọn phần ngon, còn phần xương bị bỏ lại. DNNN đi đầu là để khóa mạch nền tảng, tạo tín nhiệm cho các dòng vốn xã hội cùng vào sau. Thứ hai, giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2024 ước tính hơn 1,5 triệu tỉ đồng, chiếm 13,17% GDP. Khi “đường điện - đường dữ liệu” là huyết mạch GDP, Nhà nước phải có lực lượng đủ năng lực bảo đảm an toàn vận hành. Thứ ba, công nghệ lõi là cuộc chơi của năng lực quốc gia. Ví dụ, dự án vệ tinh quan sát Trái đất LOTUSat-1 minh họa cho đầu tư lớn, rủi ro kỹ thuật cao nhưng lợi ích công rất rộng. Thứ tư, hạ tầng số gắn với chủ quyền số. Việt Nam đã đạt 82,3% hộ gia đình có Internet cáp quang, 4G phủ sóng 99,8% lãnh thổ, IPv6 khoảng 60%. Tuy nhiên, đi đầu chỉ thuyết phục khi đi kèm minh bạch cao, giám sát và trách nhiệm cá nhân, để tài sản công thực sự tạo ra năng lực công nghệ và lợi ích công chứ không phải tích tụ rủi ro cho tương lai. . Nghị quyết đề ra cơ chế tăng vốn điều lệ, hỗ trợ tín dụng, hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm. Những cơ chế này có đủ tạo “bệ phóng” hình thành tập đoàn nhà nước công nghệ cao cạnh tranh khu vực và quốc tế? + Đây là cơ chế đúng hướng. Muốn đi nhanh phải có vốn dài hạn và cơ chế chấp nhận rủi ro. Riêng nhóm 671 DNNN được báo cáo có tổng tài sản trên 5,6 triệu tỉ đồng năm 2024. Tuy nhiên, chi cho R&D của Việt Nam theo dữ liệu gần nhất khoảng 0,43% GDP, thấp hơn nhiều so với nhóm quốc gia dẫn đầu 2%-4% GDP. Do đó, tăng vốn là cần thiết nhưng chưa đủ. Để thành bệ phóng cần năm điều kiện đi kèm. Một là chọn ít nhưng tinh, giao sứ mệnh công nghệ rõ ràng. Hai là tăng vốn đi kèm hợp đồng hiệu quả và minh bạch. Ba là quỹ đầu tư mạo hiểm phải vận hành theo nguyên tắc thị trường, dám chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Bốn là nhân tài và đãi ngộ theo thị trường. Năm là mua sắm công nghệ và dữ liệu như một thị trường đầu ra cạnh tranh. Tóm lại, nghị quyết đã đặt đúng “đòn bẩy tài chính” để khởi động. Nhưng để cất cánh thành tập đoàn công nghệ cao tầm khu vực và quốc tế, Việt Nam phải đồng thời tạo đòn bẩy thể chế: Quản trị theo chuẩn thị trường, quỹ mạo hiểm đúng nghĩa, đãi ngộ nhân tài và kỷ luật minh bạch. Nếu làm được, nguồn lực DNNN sẽ chuyển hóa thành năng lực đổi mới; còn nếu không, cơ chế tăng vốn chỉ khiến “to hơn” chứ chưa chắc “mạnh hơn”. . Xin cảm ơn ông.• Ý kiến chuyên gia
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==