11 Kinh tế - Thứ Năm 19-3-2026 kinhtedothi@phapluattp.vn Căng thẳng Trung Đông và “chìa khóa” tăng trưởng kinh tế Việt Nam Căng thẳng Trung Đông làm dấy lên lo ngại về giá dầu nhưng giới chuyên gia cho rằng tác động chủ yếu mang tính ngắn hạn, trong khi nội lực và dư địa chính sách vẫn là động lực tăng trưởng chính. THÙY LINH Những diễn biến phức tạp tại Trung Đông thời gian gần đây đang khiến không ít ý kiến lo ngại về triển vọng kinh tế toàn cầu cũng như khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam trong năm nay. Trước mục tiêu tăng trưởng được đặt ra ở mức từ 10% trở lên, câu hỏi được nhiều người quan tâm là liệu những bất ổn địa chính trị ở bên ngoài, có thể làm suy giảm động lực phát triển của nền kinh tế Việt Nam hay không. Có cơ sở để đạt mục tiêu tăng trưởng đã đề ra Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu của UOB Singapore, cho biết ngân hàng này tiếp tục giữ nguyên quan điểm tích cực đối với triển vọng kinh tế Việt Nam với dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 đạt 7,5%, trong đó quý I ước tính khoảng 7%. Đồng thời, ông Teck Kin cũng lưu ý môi trường bên ngoài vẫn tiềm ẩn nhiều biến số khó lường. Chính sách thuế của Mỹ, đặc biệt là đề xuất áp thuế toàn cầu 10%, hiện chưa có định hình rõ ràng, trong khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông có thể gây áp lực lên giá dầu, tác động lan tỏa đến chi phí logistics và chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong khi đó, ông Nguyễn Quang Huy, CEO khoa Tài chính ngân hàng Trường ĐH Nguyễn Trãi, nhận định: Nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện và mang tầm chiến lược, có thể thấy rằng những biến động tại khu vực Trung Đông chủ yếu tạo ra sức ép trong ngắn hạn. Với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định cùng dư địa chính sách và nội lực ngày càng được củng cố, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để duy trì và phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng đã đề ra. TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, cho biết theo các thống kê và nghiên cứu trước đây, tại Việt Nam khi giá xăng dầu bình quân tăng 10% sẽ khiến tăng trưởng GDP có thể giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm. Tức là từ mục tiêu tăng trưởng đặt ra là 10% thì mức tăng thực tế có thể giảm xuống còn khoảng 9,5% và lạm phát sẽ bị tăng thêm khoảng 0,36 điểm phần trăm. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế đã được cải thiện đáng kể, do đó mức độ tác động thực tế có thể thấp hơn so với ước tính trước đây. Lý giải cho quan điểm lạc quan, ông Huy nhận định Trung Đông giữ vị thế then chốt đối với thị trường năng lượng toàn cầu, do đó mỗi đợt gia tăng căng thẳng đều nhanh chóng phản ánh vào biến động giá dầu. Khi giá năng lượng đi lên, chi phí vận tải và logistics bị đẩy cao, kéo theo chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng, từ đó tạo áp lực lên lạm phát và thu hẹp biên lợi nhuận. Tuy nhiên, xét trên bình diện dài hạn, các cú sốc này chủ yếu mang tính chu kỳ và khó tạo ra thay đổi mang tính cấu trúc. Vì vậy, theo ông, trọng tâm không nằm ở việc phản ứng trước biến động ngắn hạn mà là tận dụng kinh nghiệm điều hành đã tích lũy, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm củng cố nội lực và mở rộng các động lực tăng trưởng bền vững. Triển khai “tam trụ” động lực Theo ông Huy, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, cần triển khai một cách đồng bộ và nhất quán các giải pháp mang tính nền tảng, trải dài từ điều hành vĩ mô đến năng lực thích ứng ở cấp độ doanh nghiệp. Trước hết, cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh vẫn là đòn bẩy quan Chính sách tiền tệ, cần được thực hiện theo hướng linh hoạt Mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/ năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, được xác định là định hướng chiến lược. Thực tế cho thấy tăng trưởng cao chỉ thực sự bền vững khi đi cùng nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo. Điều đó đòi hỏi việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ, cần được thực hiện theo hướng linh hoạt, chủ động và phù hợp hơn. Mục tiêu là vừa giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa đảm bảo cung ứng đủ nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế. Chất lượng tín dụng cũng cần được nâng lên, với định hướng dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành ưu tiên và những động lực tăng trưởng mới. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước PHẠM THANH HÀ UBND TP Hải Phòng vừa ban hành quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án kho cảng PV GAS Hải Phòng tại đảo Cái Tráp. Dự án do Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS) làm chủ đầu tư, nhằm xây dựng hạ tầng nhập khẩu, tồn trữ và phân phối khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) phục vụ thị trường khu vực miền Bắc. Dự án được triển khai tại khu vực đảo Cái Tráp, thuộc phạm vi Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, khu vực trung tâm công nghiệp và cảng biển trọng điểm của Hải Phòng. Vị trí này có lợi thế kết nối thuận lợi với hệ thống cảng biển và các tuyến vận tải hàng hải quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận và trung chuyển nguồn LPG phục vụ thị trường. Theo hồ sơ đề xuất đầu tư, dự án có tổng vốn khoảng 7.511 tỉ đồng (tương đương khoảng 294 triệu USD), với thời hạn hoạt động 30 năm kể từ khi được chấp thuận chủ trương đầu tư. Dự án dự kiến đưa vào vận hành từ quý III-2028. Theo thiết kế sơ bộ, kho cảng PV GAS Hải Phòng có sức chứa khoảng 60.000 tấn LPG, gồm hai cầu cảng hàng lỏng/khí có khả năng tiếp nhận tàu đến 100.000 DWT. Hệ thống kho cảng được thiết kế để tiếp nhận LPG nhập khẩu bằng tàu trọng tải lớn, sau đó phân phối đến thị trường thông qua tàu nhỏ hoặc phương tiện vận tải đường bộ. Dự án có thể tạo công ăn việc làm cho hơn 1.000 lao động trong giai đoạn xây dựng và trên 100 lao động trong giai đoạn vận hành, đóng góp tích cực cho ngân sách địa phương và sự phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng và khu vực lân cận trong thời gian tới. NGỌC SƠN trọng. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và giảm chi phí tuân thủ sẽ góp phần giải phóng các nguồn lực đang nằm im trong nền kinh tế. Khi môi trường đầu tư kinh doanh trở nên thông thoáng hơn, khu vực doanh nghiệp trong nước sẽ có thêm động lực mở rộng sản xuất, đồng thời gia tăng sức hút đối với dòng vốn đầu tư quốc tế. Cùng với đó, đầu tư công cần tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định. Việc đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính kết nối cao không chỉ tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực mà còn góp phần cải thiện năng lực logistics, giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bên cạnh đó, để ứng phó với những biến động khó lường của thị trường năng lượng toàn cầu, việc đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, tăng cường dự trữ chiến lược và nâng cao năng lực sản xuất trong nước là những giải pháp cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an ninh năng lượng. Còn theo TS Lực, để tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, Việt Nam cần triển khai đồng thời “tam trụ” động lực, thay vì tiếp cận theo từng bước rời rạc. Trụ cột thứ nhất là đẩy mạnh đầu tư, với trọng tâm là hạ tầng, khoa học công nghệ và các lĩnh vực có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa cao cho nền kinh tế. Trụ cột thứ hai là chủ động nhập khẩu công nghệ và ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. Trụ cột thứ ba là thúc đẩy đổi mới sáng tạo nội sinh nhằm nâng cao năng suất và tạo ra giá trị gia tăng bền vững. “Điều quan trọng nằm ở chỗ cả ba yếu tố này phải được triển khai đồng thời, tạo thành một vòng xoáy cộng hưởng. Chỉ khi ba trụ cột này vận hành đồng bộ, nền kinh tế mới có thể hình thành động lực tăng trưởng dài hạn, thay vì phụ thuộc vào các chu kỳ ngắn hạn” - TS Lực nêu quan điểm.• Áp lực ngắn hạn từ giá năng lượng và logistics ảnh hưởng đến xuất khẩu. Ảnh: TL Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và giảm chi phí tuân thủ sẽ góp phần giải phóng các nguồn lực đang nằm im trong nền kinh tế. Hệ thống kho cảng LPG của PV GAS góp phần đảm bảo năng lực tiếp nhận và phân phối LPG trên thị trường. Ảnh: ĐX PV GAS đầu tư hơn 7.500 tỉ đồng làm kho cảng LPG tại Hải Phòng
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==