3 Thời sự - Thứ Sáu 12-9-2025 thoisu@phapluattp.vn lược để Việt Nam cường Nghị quyết 57 đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức, định hướng tầm nhìn của Việt Nam là phát triển dựa trên nền tảng công nghệ cao, nền tảng số, nền tảng trí tuệ sáng tạo… những thủ tục phức tạp, rườm rà trước đây. Đặc biệt, ngay sau Nghị quyết 57 được ban hành, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thông tin Chính phủ sẽ dành 3% tổng chi ngân sách cho phát triển KHCN, ĐMST&CĐS. Đây sẽ là nguồn động lực quan trọng để các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và đặc biệt các doanh nghiệp khoa học công nghệ dấn thân, cống hiến. Về chiến lược phát triển, PGS-TS Trần Đình Thiên cho rằng cách của Việt Nam hiện nay là “đi sau nhưng vượt trước”, có như vậy mới có thể tiến kịp bước tiến của nhân loại, không bị bỏ lại phía sau. Điều này thể hiện trong chiến lược là Việt Nam làm bạn với tất cả các nước, mở cửa hội nhập, mời gọi kết nối để hỗ trợ, cùng phát triển trên cơ sở “hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro”. “Chúng ta đã mời gọi được rất nhiều tập đoàn về công nghệ cao đến đầu tư tại Việt Nam. Việc này cần được nhìn nhận như cơ hội hợp tác, cùng nhau phát triển” - PGS-TS Trần Đình Thiên nói. Những nút thắt cần gỡ Nhiều chuyên gia cũng nhận định rằng chuyển đổi số là cơ hội vàng để Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước đang phát triển hiện nay. Tuy nhiên, hiện cũng còn nhiều những rào cản. Nêu rõ có ba rào cản, PGSTS Trần Đình Thiên cho rằng cơ hội càng lớn thì thách thức cũng càng lớn. Đối với Việt Nam, chuyển đổi số là chưa từng có tiền lệ, điều kiện hay nền tảng nào để phát triển. Đây là nội dung hoàn toàn mới cả về cơ chế, năng lực thực thi… Điều đó có nghĩa chúng ta chưa chuẩn bị đầy đủ những điều kiện, năng lực để triển khai xã hội số, nền kinh tế số. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Chúng ta trói buộc doanh nghiệp, sáng tạo cá nhân nhiều quá. Những điều này cần được tháo gỡ, mở trói để khu vực tư nhân phát triển. Một vấn đề nữa là năng lực về vốn, quản trị, KHCN còn yếu, trong khi sự liên kết sức mạnh trong nước và quốc tế chưa đủ mạnh. “Vẫn còn tình trạng mạnh ai nấy làm” - ông Trần Đình Thiên nói và khẳng định để gỡ được cần có cách thức tiếp cận nhằm “mở bung ra tài năng của đất nước”. Bên cạnh đó, liên kết hội nhập của Việt Nam chưa tương xứng với tiềm lực. Chưa tận dụng được hết tiềm năng của nguồn nhân lực giỏi ở cả trong và ngoài nước... “Chúng ta sẵn sàng nhưng cách làm còn hạn chế” - ông Thiên nói. Bày tỏ đồng tình với ba rào cản mà PGS-TS Trần Đình Thiên nêu ra, GS-TS Lê Anh Tuấn bổ sung thêm một nút thắt, rào cản nữa về đào tạo. Theo ông, còn sự lệch pha giữa nhu cầu về kỹ năng số, năng lực số của nền kinh tế với chương trình đào tạo. Kỹ năng số chưa được đưa vào chương trình đào tạo. “Chương trình đào tạo cần thay đổi, trong đó bổ sung các kỹ năng số, năng lực số cho người học. Để làm được việc này thì giáo viên, giảng viên cũng phải được đào tạo về kỹ năng số, năng lực số. Nếu không làm chủ trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới thì rất khó để truyền tải tới người học và dần tụt hậu so với thế giới” - Chủ tịch Hội đồng ĐH, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, nói. Ông Nguyễn Đạt cũng cho rằng thách thức trong chuyển đổi số là người dùng không quen với cách làm việc mới vì phải thay đổi toàn bộ quy trình cũng như cách thức làm việc. Nêu dẫn chứng về lợi ích của thay đổi quy trình, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị doanh nghiệp, phó tổng giám đốc Tập đoàn Viettel cho biết trước đây ông phải ký khoảng 1.000 văn bản giấy/ngày. “Tuy nhiên, nhờ quy trình số hóa, hiện nay văn bản sẽ được xử lý song song ở tất cả bộ phận liên quan, có quy định thời gian cụ thể. Mọi chỉ tiêu được minh bạch, khối lượng công việc cũng được giải quyết nhanh và hiệu quả hơn” - ông Nguyễn Đạt chia sẻ. Dù vậy, ông cũng chỉ ra thách thức hiện hữu là kỹ năng của người dùng còn hạn chế. Chẳng hạn, trong dịch vụ công, đòi hỏi phải thao tác nhanh trên máy tính nhưng nhiều người xử lý chưa thực sự thành thạo. Ngoài ra, ứng dụng chuyển đổi số vào quy trình sản xuất của tổ chức, theo ông Nguyễn Đạt, cũng là một rào cản. Việc này đòi hỏi quyết tâm rất cao của người đứng đầu bởi những rủi ro khi đầu tư vào một công nghệ mới. “Nếu doanh nghiệp vượt qua những rào cản đó sẽ thấy được thành quả” - theo ông Đạt.• Tăng cường hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế trong phát triển KHCN, ĐMST&CĐS là rất cần thiết, giúp chúng ta nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển. Việc tăng cường hợp tác quốc tế phải đi đôi với việc phát triển nguồn lực trong nước, từng bước tạo các sân chơi công bằng, bình đẳng cho các đối tác trong nước và các đối tác nước ngoài để huy động nguồn lực từ nước ngoài phục vụ phát triển KHCN, ĐMST&CĐS. PGS-TS VŨ THANH CA Họ đã nói Làm việc cũ theo cách mới Để đất nước hùng cường, mỗi người chúng ta hãy yêu thích việc mình đang làm. Cần thay đổi tư duy rằng khi được giao bất kỳ việc gì thì hãy làm với một tâm thái yêu thích nhất. Như ở Tập đoàn Viettel, hầu như ai cũng phải trải qua hàng chục vị trí công việc, nếu không yêu thích thì sẽ không đạt được kết quả cao. Đặc biệt, hãy làm những công việc cũ nhưng theo một cách mới. Đó là sự sáng tạo, sáng tạo sẽ giúp năng suất công việc cao hơn, hiệu quả hơn… Ông NGUYỄN ĐẠT, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel Đột phá từ Nghị quyết 57: Ưu tiên khơi thông điểm nghẽn nào? Trong những năm qua, Việt Nam đã có những phát triển kinh tế rất mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu về đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, như tinh thần Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị và thực tiễn ở Việt Nam đã chỉ ra vẫn có rất ít các phát minh, sáng chế và vẫn chưa làm chủ được nhiều công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, đặc biệt là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… nên chưa tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ của sản phẩm quốc gia trên thị trường quốc tế. An ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức. Từ gỡ các điểm nghẽn thể chế Để thực hiện tốt Nghị quyết 57, ưu tiên trước hết là khắc phục những tồn tại yếu kém trong “điểm nghẽn của điểm nghẽn” là thể chế, cơ chế và chính sách để quản lý minh bạch và hiệu quả. Từ đó, tạo cơ sở để sử dụng hiệu quả tất cả nguồn lực phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển đổi số, trọng dụng nhân tài một cách thực chất, hiệu quả, thu hút được nhân tài. Việc xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách cần phải đảm bảo sự tham gia của cả cộng đồng khoa học công nghệ (KHCN) và doanh nhân để tận dụng mọi nguồn tri thức. Các thể chế, chính sách tốt, minh bạch phải đảm bảo giảm được tình trạng tham nhũng, lãng phí và sử dụng hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (ĐMST&CĐS). Chỉ có các chính sách tốt để đảm bảo sử dụng hợp lý, hiệu quả với thù lao xứng đáng mới có thể tăng sức hấp dẫn của các nghề nghiệp liên quan và thu hút, giữ chân người tài để đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Để tăng tốc độ xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện thể chế, chính sách KHCN, ĐMST&CĐS quốc gia, có thể tham khảo các thể chế, chính sách và thực tiễn quản lý của các quốc gia phát triển trong và ngoài khu vực. Đặc biệt, chú trọng học tập kinh nghiệm của các quốc gia và vùng lãnh thổ phát triển có điều kiện văn hóa gần với Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… Đến nâng cao chất lượng hạ tầng, nhân lực Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một việc làm lâu dài và cần phải có kế hoạch thực hiện. Đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực này là rất cần thiết nhưng Nhà nước chỉ nên đầu tư tài chính cho một số đối tượng đặc biệt, như đào tạo trên ĐH, đào tạo những nhân tài có hoàn cảnh khó khăn ở bậc ĐH, tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học, tài trợ xuất bản các tạp chí khoa học, thưởng cho các công bố quốc tế, bằng phát minh, sáng chế… Việc tạo ra một thị trường lao động minh bạch với những cơ hội việc làm tốt thông qua xây dựng các thể chế, chính sách cũng như phát triển hạ tầng cho KHCN, ĐMST&CĐS quốc gia sẽ giúp huy động một nguồn lực rất lớn trong dân để thực hiện nhiệm vụ này. Thị trường lao động minh bạch là cơ chế hiệu quả và bền vững nhất để bố trí nguồn lực lao động và thu hút người tài trong và ngoài nước vào lĩnh vực KHCN, ĐMST&CĐS. Đầu tư hoàn thiện hạ tầng cho KHCN, ĐMST&CĐS quốc gia là rất cần thiết nhưng cần được thực hiện theo các nhu cầu cần thiết. Vì hạ tầng KHCN, ĐMST&CĐS quốc gia rất đắt tiền, dễ bị lãng phí và nhanh chóng bị lỗi thời nên khi đầu tư phải có kế hoạch sử dụng một cách thật hiệu quả hạ tầng này. Việc đầu tư chỉ nên được thực hiện khi đã chứng minh được hiệu quả đầu tư. Cần đầu tư hợp lý để nhanh chóng thay đổi cả về cơ chế quản lý cũng như hạ tầng vật chất và kỹ thuật, công nghệ của các trường ĐH và các viện nghiên cứu trọng điểm.• Phải khắc phục sớm những vướng mắc về thể chế, hạ tầng, con người mới có thể đưa Nghị quyết 57 đi vào thực tiễn, tạo đột phá cho khoa học công nghệ. PGS-TS VŨ THANH CA Cần có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: THUẬN VĂN
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==