11 Kinh tế - Thứ Sáu 23-1-2026 kinhtedothi@phapluattp.vn DOANH NGHIỆP VIỆT XUẤT KHẨU SANG EU: Cuộc đua “kiểm đếm” carbon chính thức bắt đầu Các chi phí ẩn trong chuỗi cung ứng có thể khiến một số doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam không đủ khả năng thâm nhập thị trường châu Âu (EU). HẠ QUYÊN Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) đã bước vào giai đoạn thực thi chính thức từ ngày 1-1-2026. Cơ chế này yêu cầu các nhà nhập khẩu EU phải mua chứng chỉ để bù đắp cho lượng khí thải carbon tích hợp trong hàng hóa nhập khẩu từ sáu lĩnh vực phát thải cao. Cụ thể gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro. Phát thải đã được định giá bằng tiền thật Theo đó, giá của chứng chỉ CBAM được tính toán dựa trên giá đấu giá tín chỉ phát thải thuộc hệ thống giao dịch phát thải của EU (EU ETS). Với giá EU ETS hiện tại là khoảng 80 euro/tấn CO2. Tại Việt Nam, các nhà sản xuất công nghiệp nặng đang vừa phải xoay xở để đo lường lượng khí thải carbon, nhằm đáp ứng yêu cầu bền vững từ các thị trường xuất khẩu chính, vừa phải chịu áp lực lớn hơn từ CBAM của Liên minh châu Âu. Các chuyên gia của ĐH RMIT cho rằng ngành thép đang là nhóm sản phẩm chịu tác động nặng nề nhất do doanh thu hàng tỉ đô la từ xuất khẩu sang EU. Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP cho biết các nhà nhập khẩu châu Âu đã gấp rút đặt hàng trong quý IV-2025, để nhận hàng trước thời điểm quy định CBAM bắt đầu được áp dụng và hàng nhập khẩu sẽ chịu thuế carbon. Tuy vậy, dù nhu cầu thị trường thời điểm đó đang cao nhưng hạn ngạch của các nhà cung cấp truyền thống như Việt Nam, Nhật Bản, Ai Cập lại rất thấp do đều đang bị áp thuế chống bán phá giá tại EU. Bên cạnh đó, các ngành xi măng và phân bón cũng nhiều nỗi lo và thậm chí còn đối mặt với những rào cản riêng, vì lượng phát thải gián tiếp từ điện năng sử dụng trong quá trình sản xuất các mặt hàng này phải được khai báo, tính toán theo quy định của CBAM. “Điều này có nghĩa là các hoạt động sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng có thể làm tăng đáng kể chi phí carbon cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam” - TS Scott McDonald, giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics tại ĐH RMIT Việt Nam, nói. Ông cho biết các phương thức sản xuất thâm dụng carbon và phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch tạo ra bất lợi cạnh tranh lớn, khi cường độ phát thải ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức trung bình của EU. Các chuyên gia luật cũng kêu gọi doanh nghiệp Việt Nam thiết lập hệ thống theo dõi và đo lường phát thải trong toàn bộ quy trình sản xuất. Đối với các nhà quản lý chuỗi cung ứng, cần phải xác định những nỗi lo tiềm ẩn mà họ chưa theo dõi. “Ví dụ, mỗi kilowatt giờ (kWh) điện năng tiêu thụ trong quá trình sản xuất vật liệu, có thể sớm được định giá bằng chứng chỉ carbon của châu Âu” - TS McDonald chỉ ra. Thực tế từ ngày 1-1, việc khai báo hải quan đối với hàng hóa thuộc diện quản lý của CBAM đã đòi hỏi các yêu cầu về chứng từ và báo cáo mới. Việc này làm tăng thêm gánh nặng hành chính Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore (Bộ Công Thương), thị trường Singapore có nhu cầu tương đối đồng đều đối với bốn nhóm thủy sản chính. Giá trị nhập khẩu mỗi nhóm này đều đạt trên 200 triệu SGD trong năm 2025. Việt Nam hiện giữ vững vị trí thứ ba về nguồn cung thủy sản cho Singapore. Thứ hạng này chỉ đứng sau hai quốc gia là Malaysia và Indonesia. Năm 2025, giá trị nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam của Singapore đạt 125,5 triệu SGD. Con số này tăng 10,7% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 10,3% tổng thị phần thủy sản nhập khẩu tại thị trường này. Thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Singapore vẫn tiếp tục chịu sự bám đuổi từ Na Uy, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong đó, Na Uy tiếp tục dẫn đầu đối với nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh, trừ phi lê cá và thịt cá. Quốc gia này hiện nắm giữ 42,5% thị phần nhập khẩu của Singapore đối với nhóm hàng trên. Đối với Trung Quốc, quốc gia này vừa vượt qua Na Uy trong quý III-2025 để trở thành đối tác cung ứng thủy sản thứ tư tại Singapore. Hiện Trung Quốc đứng ngay sau Việt Nam và giữ thế mạnh ở các nhóm động vật giáp xác và động vật thân mềm. Số liệu thống kê cho thấy phi lê cá và thịt cá ướp lạnh hoặc cấp đông là nhóm có giá trị nhập khẩu cao nhất của Việt Nam vào Singapore. Trong năm 2025, Singapore đã nhập khẩu nhóm hàng này trị giá 63 triệu SGD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2024. Sản phẩm Việt Nam hiện chiếm 29,7% thị phần ở phân khúc này. Đây là nhóm thủy sản mà hàng Việt Nam đang duy trì được vị trí thống lĩnh tại thị trường Singapore. Ngoài ra, hai nhóm khác có giá trị nhập khẩu đáng kể là động vật giáp xác và động vật thân mềm. Kim ngạch đạt tương ứng 28,6 triệu SGD và 15,8 triệu SGD, chiếm 9,8% và 11,4% thị phần. Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore, những năm gần đây, thủy sản Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể. Năm 2024, Việt Nam lần đầu vượt qua Nhật Bản để giữ vị trí đối tác xuất khẩu thủy sản lớn thứ năm của Singapore. Đến quý I-2025, Việt Nam tiếp tục vượt qua Trung Quốc để vươn lên vị trí thứ tư. Kết thúc năm 2025, Việt Nam đã bảo vệ thành công vị trí top 3 nguồn cung lớn nhất cho thị trường này. Mặc dù Việt Nam vào top 3 nhưng khoảng cách giá trị kim ngạch với Trung Quốc hay Na Uy là chưa thật sự lớn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường hơn nữa công tác xúc tiến và đổi mới công nghệ. TÚ UYÊN cho các thủ tục xuất khẩu vốn phức tạp. TS McDonald lưu ý các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần đặc biệt quan tâm tới các chi phí tiềm tàng do thiếu chứng từ. Khi doanh nghiệp xuất khẩu không thể cung cấp dữ liệu phát thải đã được xác minh, giá trị mặc định của lượng phát thải tích hợp trong hàng hóa sẽ được tính dựa trên cường độ phát thải trung bình của 10 nhà xuất khẩu có mức phát thải cao nhất. Điều này có thể làm gia tăng chi phí đáng kể. Khuyến nghị dành cho các nhà xuất khẩu Việt Nam Nhằm làm giảm những rủi ro trong chi phí tiềm ẩn, trước thời hạn nộp tờ khai CBAM đợt đầu tiên vào ngày 30-92027, TS McDonald đề xuất doanh nghiệp Việt trong các ngành bị ảnh hưởng nên hành động ngay lập tức. Đầu tiên, doanh nghiệp cần triển khai các hệ thống đo lường lượng khí thải carbon, bao gồm cả khí thải trực tiếp và gián tiếp từ việc sử dụng điện trong sản xuất. Thứ hai, doanh nghiệp nên thuê các đơn vị thẩm định được chứng nhận để xác thực dữ liệu phát thải thực tế, vì các công ty dựa vào giá trị mặc định của EU sẽ phải chịu chi phí chứng nhận cao hơn đáng kể. Thứ ba, doanh nghiệp cần tận dụng các khuôn khổ hiện hành của Việt Nam, bao gồm hướng dẫn của Thông tư 38/2023/TT-BCT, để đo lường và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính. Thứ tư, doanh nghiệp nên liên hệ với các hiệp hội ngành nghề để được đào tạo kỹ thuật và tham gia các hội thảo liên quan. Cuối cùng, doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc tìm hiểu các lựa chọn tài chính xanh và công nghệ tiết kiệm năng lượng để giảm phát thải ngay tại nguồn. Những yêu cầu trên có thể biến việc tuân thủ CBAM từ gánh nặng chi phí thành lợi thế cạnh tranh thông qua các hoạt động sản xuất bền vững.• Sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro là sáu nhóm ngành bị ảnh hưởng bởi cơ chế CBAM. Ảnh: NGHI TRẦN Các phương thức sản xuất thâm dụng carbon và phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch tạo ra bất lợi cạnh tranh lớn, khi cường độ phát thải ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức trung bình của EU. Thủy sản Việt Nam vươn lên vị trí top 3 tại Singapore Cần sớm có tiêu chuẩn quốc gia về trung hòa carbon Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT Công ty Vina T&T, chuyên về xuất khẩu nông sản cho biết doanh nghiệp đã sớm áp dụng đo phát thải, sử dụng năng lượng tái tạo và xây dựng bộ tiêu chuẩn nội bộ để kiểm soát lượng phát thải của từng lô hàng, từ đó tối ưu các biện pháp tiết giảm. Nhờ vậy, khi EU áp dụng CBAM cho mặt hàng rau quả, doanh nghiệp có thể đáp ứng ngay. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là thiếu bộ tiêu chuẩn đo đếm thống nhất để chứng minh mức phát thải cho từng thị trường, nên nhu cầu xây dựng chuẩn quốc gia về trung hòa carbon là vô cùng cấp thiết.
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==