7 Pháp luật & cuộc sống - Thứ Hai 20-4-2026 phapluat@phapluattp.vn HUỲNH THƠ - TRẦN MINH Vụ án này bắt đầu từ câu chuyện tình của NMĐ và NTTN, họ quen nhau qua mạng xã hội, nảy sinh tình cảm rồi dọn về sống chung. Trong suy nghĩ của họ, khi hai bên gia đình đều biết và đồng thuận, việc cùng nhau xây dựng cuộc sống, sinh con là lẽ tự nhiên. Nhưng chính sự “tự nhiên” ấy khiến người chồng hiện nay phải vướng vào vòng lao lý. Tình thế pháp lý nghiệt ngã Theo kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM và cáo trạng của VKSND khu vực 9 - TP.HCM, vụ việc bắt đầu từ năm 2020, khi Đ (sinh năm 2002) quen biết em N (sinh năm 2005) qua mạng xã hội. Tháng 7-2020, khi Đ đã đủ 18 tuổi, còn N mới 15 tuổi, cả hai nhiều lần làm chuyện vợ chồng tại nơi ở của Đ ở phường Bình Hưng Hòa, TP.HCM. Đến tháng 8-2020, N phát hiện mình đang mang thai, Đ thông báo cho gia đình và được hai bên chấp nhận cho sống chung như vợ chồng dù chưa đăng ký kết hôn. Năm 2021, N sinh con gái đầu lòng, những tưởng cuộc sống gia đình nhỏ sẽ tiếp tục như bao gia đình khác nhưng một đơn tố giác xuất hiện khiến Đ bị khởi tố. Theo xác minh của cơ quan điều tra, người đứng tên trong đơn tố giác không rõ lai lịch, không xác định được nơi cư trú. Quá trình điều tra xác định tại thời điểm quan hệ, Đ là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong khi N chưa đủ 16 tuổi. Tháng 5-2025, cơ quan CSĐT ra quyết định khởi tố vụ án giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và đến tháng 10-2025 thì khởi tố bị can đối với Đ về tội danh này. Tháng 3-2026, VKSND khu vực 9 - TP.HCM ban hành cáo trạng truy tố Đ theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 BLHS (khung hình phạt 3-10 năm tù). Cơ quan tố tụng cũng ghi nhận Đ không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, đồng thời sau đó đã đăng ký kết hôn cùng N (vào năm 2025) và đã sinh đứa con thứ hai (vào năm 2023). Nỗi lòng người trong cuộc Đối diện với cáo buộc, Đ nói anh thực sự bàng hoàng. Lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn, không được học hành, anh gần như không có hiểu biết về pháp luật, càng không ý thức rằng hành vi của mình có thể thành tội phạm. Đ cho biết năm 13 tuổi đã phải lao động sớm để phụ giúp gia đình, làm nhiều công việc khác nhau để mưu sinh, hiện tại anh làm nghề mai táng cùng với cha, thu nhập chỉ ở mức đủ sống. “Khi được cơ quan chức năng giải thích, tôi mới biết và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tôi không dám mong được miễn tội, chỉ mong được xem xét không bị tù giam để có thể tiếp tục đi làm, lo cho vợ con và gia đình” - anh Đ bày tỏ. Còn N thì cho biết bản thân cũng nghỉ học từ sớm nên không có hiểu biết về pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến độ tuổi kết hôn hay các hành vi bị cấm. Chỉ đến khi làm việc với cơ quan công an và được giải thích cụ thể, chị mới biết hành vi quan hệ khi chưa đủ tuổi của chồng mình là vi phạm pháp luật. Hiện nay, chị đang mang thai đứa con thứ ba với Đ, sức khỏe yếu nên phải ở nhà, không thể lao động. Trước đây, sau khi sinh con đầu lòng, N từng đi làm phụ quán để phụ giúp chồng, mỗi ngày kiếm được một khoản nhỏ để trang trải chi phí sinh hoạt. Tuy nhiên, từ khi có con thứ hai và hiện đang mang thai đứa thứ ba, N buộc phải nghỉ việc để chăm sóc các con nhỏ. N cho biết cả ba lần mang thai đều ngoài ý muốn, dù đã áp dụng biện pháp tránh thai. Dù vậy, vợ chồng vẫn quyết định giữ lại các con vì “con cái là trời cho”, không nỡ bỏ. N cũng chia sẻ hoàn cảnh gia đình khó khăn, toàn bộ chi phí sinh hoạt gia đình đều phụ thuộc vào chồng. Khi nhận được cáo trạng, cả hai vợ chồng vô cùng lo lắng vì không nghĩ sự việc lại dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng như vậy. “Nếu chồng em có chuyện gì, em không biết phải làm sao để nuôi các con. Em vừa mang thai vừa không có thu nhập” - N xúc động. N cho biết mong muốn lớn nhất của vợ chồng là các con được học hành đầy đủ, có cuộc sống tốt hơn, bởi trước đây cha mẹ đã không có điều kiện học hành. “Vợ chồng em nhận thức được sai sót của mình, chỉ mong được tạo điều kiện để chồng em tiếp tục làm việc nuôi con. Hơn nữa, từ ngày quen nhau đến giờ, bọn em cũng chưa từng lớn tiếng hay cãi vã” - N bày tỏ. Nói trong nước mắt, bà L (mẹ của Đ) cho biết bản thân không biết chữ, cũng không am hiểu pháp luật. Khi Đ quen N rồi có con, bà chỉ nghĩ giản đơn “có con thì lo làm ăn nuôi con”. Sau khi nhận cáo trạng, bà gần như mất ăn mất ngủ bởi Đ là trụ cột kinh tế, gánh vác việc nuôi vợ con và đỡ đần cha mẹ già yếu. Bà T (mẹ của N) cũng mang nặng nỗi lo. “Hiện hai đứa nhỏ đang sống hạnh phúc, chăm lo cho con cái, không may Đ có chuyện gì thì người khổ không chỉ có con gái tôi mà còn các cháu của tôi” - bà T nói.• Thêm 1 vụ chồng bị khởi tố vì lấy vợ tuổi 15 “Nếu chồng em có chuyện gì, em không biết phải làm sao để nuôi các con. Em vừa mang thai vừa không có thu nhập” - N xúc động. Kiểm soát quyền lực - “then chốt của then chốt” trong phòng, chống tham nhũng Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 diễn ra mới đây, một hệ thống quan điểm, cơ chế và công cụ kiểm soát quyền lực ngày càng hoàn chỉnh đã được xác lập rõ nét với điểm nhấn xuyên suốt là quyền lực phải được “nhốt trong lồng cơ chế”. Điểm đáng chú ý trước hết là Trung ương đã tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền lực một cách toàn diện, không còn dừng lại ở nguyên tắc chung chung mà đã cụ thể hóa thành năm lĩnh vực trọng yếu: Trong công tác cán bộ; trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, thanh tra, kiểm toán; trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; trong công tác xây dựng pháp luật; trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Đây chính là những “điểm nóng quyền lực”, nơi nếu không kiểm soát chặt chẽ sẽ dễ phát sinh lạm quyền, tham nhũng, lợi ích nhóm. Việc thiết lập các quy định riêng cho từng lĩnh vực cho thấy tư duy kiểm soát quyền lực đã chuyển từ khái quát chung chung sang “trúng và đúng”, từ phòng ngừa chung sang kiểm soát có trọng tâm, trọng điểm. Từ các chuyên đề, có thể thấy một nguyên tắc xuyên suốt được nhấn mạnh: Kiểm soát quyền lực không phải là hậu kiểm mà phải là tiền kiểm và trung kiểm. Tức kiểm soát ngay từ khi quyền lực được hình thành, trong suốt quá trình vận hành và trước khi sai phạm xảy ra. Đây là bước chuyển quan trọng, thể hiện rõ qua yêu cầu tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro tham nhũng mà còn góp phần xây dựng một nền quản trị chủ động, phòng ngừa. Một điểm nhấn khác là việc khẳng định nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Trong bối cảnh quyền lực luôn gắn với trách nhiệm, việc xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bất kể vị trí, chức vụ, đã trở thành thông điệp mạnh mẽ củng cố niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên, điều đáng nói là cùng với xử lý sai phạm, các chuyên đề cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây là sự cân bằng cần thiết giữa siết chặt kỷ luật và khuyến khích đổi mới, tránh tâm lý sợ sai, né trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ. Cơ chế kiểm soát quyền lực cũng được thiết kế theo hướng ngày càng hiện đại và liên thông. Nếu trước đây kiểm tra, giám sát chủ yếu dựa vào hồ sơ, báo cáo thì nay đã chuyển mạnh sang quản lý và giám sát trên dữ liệu. Việc kết nối các cơ sở dữ liệu về tài sản, ngân hàng, đất đai, thuế… cùng với các biện pháp như ghi âm, ghi hình, phong tỏa tài khoản cho thấy kiểm soát quyền lực đang được số hóa. Tạo ra khả năng phát hiện sai phạm nhanh hơn, chính xác hơn. Đây là bước tiến phù hợp với xu thế quản trị hiện đại, đồng thời nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Không thể không nhắc đến vai trò của công tác kiểm tra, giám sát được xác định là “tai mắt” của Đảng và là công cụ trực tiếp để kiểm soát quyền lực. Các chuyên đề đều thống nhất quan điểm kiểm tra, giám sát không phải là nhiệm vụ riêng của ủy ban kiểm tra mà là trách nhiệm của toàn Đảng, của mỗi tổ chức Đảng và từng đảng viên. Việc đề cao tự kiểm tra, tự giám sát ngay từ chi bộ, “tế bào” của Đảng cho thấy một cách tiếp cận từ gốc, nơi mọi biểu hiện lệch lạc có thể được phát hiện sớm nhất. Cơ chế phối hợp liên ngành giữa kiểm tra Đảng với thanh tra, kiểm toán, công an, viện kiểm sát, tòa án… cũng được nhấn mạnh như một giải pháp quan trọng để kiểm soát quyền lực hiệu quả. Sự phối hợp này không chỉ giúp tránh chồng chéo mà còn tạo ra hệ thống giám sát đa chiều, hạn chế tình trạng khoảng trống quyền lực hoặc vừa đá bóng vừa thổi còi. Một điểm mới có ý nghĩa chiến lược là việc gắn kiểm soát quyền lực với xây dựng văn hóa liêm chính và hoàn thiện thể chế. Phòng, chống tham nhũng không chỉ là xử lý vi phạm mà còn là xây dựng môi trường để “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và tiến tới “không cần tham nhũng”. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao đời sống cán bộ, tăng cường minh bạch, kiểm soát tài sản, thu nhập… vốn là những yếu tố nền tảng để phòng ngừa từ gốc. Nhìn tổng thể, năm chuyên đề tại hội nghị đã phác họa một bức tranh rõ nét về hệ thống kiểm soát quyền lực trong giai đoạn mới, toàn diện hơn, chặt chẽ hơn và hiện đại hơn. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không nằm ở việc ban hành quy định mà ở khâu tổ chức thực hiện. Làm thế nào để các nguyên tắc “không vùng cấm”, “giám sát từ sớm”, “minh bạch, giải trình” thực sự đi vào cuộc sống, trở thành thói quen trong hoạt động của bộ máy đó mới là thước đo hiệu quả. Kiểm soát quyền lực, suy cho cùng không chỉ là yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng, xây dựng bộ máy liêm chính, mà còn là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước bền vững. Khi quyền lực được kiểm soát tốt, nguồn lực sẽ được sử dụng hiệu quả, niềm tin xã hội được củng cố và khát vọng phát triển sẽ có nền tảng vững chắc để hiện thực hóa. Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, với những nội dung được quán triệt sâu sắc, đã đặt thêm một viên gạch quan trọng trên con đường đó. Nói như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là: “Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả”. LÊ PHI Góc nhìn Lúc làm chuyện người lớn, bị hại mới chỉ 15 tuổi; nay họ đã là vợ chồng, có với nhau hai mặt con và người vợ đang mang thai đứa con thứ ba thì người chồng vướng vòng lao lý... Vợ chồng anh Đ và con gái đầu lòng. Ảnh: TRẦN MINH
RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==