085-2026

7 Pháp luật & cuộc sống - Thứ Sáu 24-4-2026 cứu trách nhiệm thân chủ phapluat@phapluattp.vn Bộ Tư pháp khai trương cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được thể hiện theo đúng chuẩn ngôn ngữ chung của các hệ thống pháp luật tiên tiến thế giới, giúp hệ thống có khả năng kết nối liên thông với các nền tảng số khác. Ngày 23-4, Bộ Tư pháp tổ chức lễ khai trương cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới), hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và hội nghị tập huấn, triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL. Việc thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, mang tính chiến lược, góp phần hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật. Xác định rõ đây là nhiệm vụ có quy mô lớn, phạm vi rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, đòi hỏi cao về tính chính xác, thống nhất và đồng bộ, Bộ Tư pháp đang nỗ lực, quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trọng tâm bảo đảm cho công tác rà soát được thực hiện thống nhất, chính xác, hiệu quả, đáp ứng mục đích, yêu cầu đặt ra. Để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo đảm và hỗ trợ tối đa cho các cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát, Bộ Tư pháp cùng với sự đồng hành công nghệ của Tập đoàn FPT đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tập trung triển khai hai nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, nâng cấp và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, nền tảng dữ liệu pháp lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Thứ hai, xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản QPPL, bao gồm phần mềm hỗ trợ kiểm tra, rà soát văn bản QPPL và chuyên mục tổng rà soát trên cổng pháp luật quốc gia. Từ ngày 23-4, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) được vận hành chính thức tại địa chỉ: https://vbpl.vn/. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được tái cấu trúc toàn diện, quản lý chi tiết đến từng điều, khoản, điểm. Đặc biệt, toàn bộ dữ liệu hiện nay được thể hiện theo đúng chuẩn ngôn ngữ chung của các hệ thống pháp luật tiên tiến thế giới, giúp hệ thống không chỉ là kho lưu trữ, mà còn có khả năng kết nối liên thông với các nền tảng số khác. Nhờ đó, nội dung văn bản được chuyển thành “dữ liệu có cấu trúc”, cho phép hệ thống máy đọc, hiểu và xử lý tự động. Việc tái cấu trúc và chuẩn hóa dữ liệu lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL trên phạm vi toàn quốc, với khối lượng văn bản lớn, phạm vi rộng với yêu cầu độ chính xác cao. Trong giai đoạn tới, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được định hình là nền tảng tri thức pháp lý số mang tính dẫn dắt, xác định năm trụ cột chiến lược: Hoàn thiện chu trình số hóa toàn diện vòng đời văn bản pháp luật; phát triển hệ sinh thái kết nối và chia sẻ dữ liệu pháp lý liên thông; thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích và cảnh báo pháp lý; hình thành nền tảng dữ liệu lớn về pháp luật quốc gia; kiến tạo tri thức pháp luật số phục vụ toàn xã hội. BÙI TRANG giữa LS và thân chủ được thừa nhận rộng rãi như một trụ cột của nền tư pháp công bằng. Chẳng hạn, trong “Basic Principles on the Role of Lawyers 1990” (Bộ nguyên tắc cơ bản về vai trò của LS) của Liên hợp quốc nhấn mạnh nghĩa vụ của các quốc gia trong việc tôn trọng tính bảo mật của mọi trao đổi giữa LS và thân chủ. Đây không chỉ là chuẩn mực nghề nghiệp mà còn là điều kiện bảo đảm quyền tiếp cận công lý. “Do đó, là một LS đang hành nghề thực tiễn, tôi cho rằng nên giữ nguyên khoản 3 Điều 19 BLHS hiện hành. Việc sửa đổi theo hướng mở rộng trách nhiệm tố giác của LS không chỉ gây ra xung đột với nguyên tắc nghề nghiệp mà còn có thể làm suy yếu quyền bào chữa và tính công bằng của hệ thống tư pháp” - LS Huyền nêu quan điểm. Bổ sung thêm điều kiện từ đề xuất của Bộ Công an Nêu ý kiến về vấn đề này, PGS-TS Trịnh Duy Thuyên (Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, ĐH Kinh tế TP.HCM) nói cần cân nhắc kỹ lưỡng việc mở rộng truy cứu TNHS đối với LS không tố giác thân chủ. Theo ông, cách tiếp cận đó có thể làm suy giảm sự bảo mật trong quan hệ giữa LS và thân chủ - vốn là điều kiện thiết yếu để quyền bào chữa được bảo đảm một cách thực chất. PGS-TS Trịnh Duy Thuyên cho biết Bộ nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của LS quy định rằng mọi trao đổi và tham vấn giữa LS với khách hàng trong khuôn khổ quan hệ nghề nghiệp đều phải được công nhận là bí mật; đồng thời người bị bắt, tạm giữ hoặc tạm giam phải có cơ hội được trao đổi với LS trong điều kiện Các đại biểu tại lễ khai trương cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Ảnh: HOÀNG HUY Tiêu điểm Các nước quy định thế nào? Tại Mỹ, Quy tắc mẫuvềứng xử nghề nghiệp của Hiệp hội LS Mỹ cho phépLStiết lộ thông tin trong chừng mực cần thiết hợp lý để ngăn ngừa cái chết hoặc tổn hại thân thể nghiêm trọng, cũng như để ngăn khách hàng thực hiện một tội phạm hoặc hành vi gian lận có khả năng gây thiệt hại đáng kể về tài sản hoặc lợi ích tài chính của người khác, nếu khách hàng đang sử dụng hoặc đã sử dụng dịch vụ của LS cho mục đích đó. Tại Anh và xứ Wales, nguyên tắc bảo mật vẫn được duy trì rất mạnh nhưng cơ quan quản lý nghề LS cũng thừa nhận rằng trong một số trường hợp nhất định, LS có thể tiết lộ thông tin để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm trong tương lai. Đồng thời, các trao đổi nhằm thúc đẩy một mục đích phạm tội sẽ không được hưởng sự bảo vệ của đặc quyền nghề nghiệp pháp lý. Như vậy, xu hướng chung của thế giới không phải là xóa bỏ bí mật nghề nghiệp, mà là bảo vệ nguyên tắc này như nền tảng, đồng thời mở ra những ngoại lệ hẹp trong các trường hợp lợi ích công bị đe dọa ở mức đặc biệt cao. PGS-TS TRỊNH DUY THUYÊN, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, ĐH Kinh tế TP.HCM Theo PGS-TS Trịnh Duy Thuyên, hướng hợp lý nhất là chấp nhận một phần quan điểm của Bộ Công an theo hướng có điều kiện, trong phạm vi và giới hạn nhất định, nhất là đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia. bảo đảm tính bảo mật đầy đủ. “Điều đó cho thấy bí mật nghề nghiệp không phải là đặc quyền cá nhân của LS, mà là một bảo đảm thể chế cho quyền được trợ giúp pháp lý và quyền bào chữa trong Nhà nước pháp quyền” - ông Thuyên nói. Tuy nhiên, lý do là đề xuất của Bộ Công an cũng không phải không có lý nếu thân chủ đang chuẩn bị thực hiện phạm tội, đang thực hiện tội phạm mới hoặc tiếp diễn hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó mà không thuộc phạm vi bào chữa. Khi đó, LS không còn đứng ở vị trí người bảo vệ quyền lợi của thân chủ đối với một hành vi đã hoàn thành trong quá khứ, mà đang đối diện với một nguy cơ phạm tội hiện hữu hoặc đang tiếp diễn trong thực tại. Do đó, nếu vẫn tiếp tục mở rộng cơ chế miễn trừ trong tình huống này thì rất khó dung hòa với yêu cầu của pháp luật hình sự là “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và ngăn chặn kịp thời”. Chính vì vậy, theo PGS-TS Trịnh Duy Thuyên, hướng hợp lý nhất là chấp nhận một phần quan điểm của Bộ Công an theo hướng có điều kiện, trong phạm vi và giới hạn nhất định, nhất là đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đồng thời, điều này phải được quy định thật rõ để tránh xâm phạm quá mức đến quyền bào chữa và tính độc lập của nghề LS. “Nói cách khác, tôi không ủng hộ việc mở rộng TNHS một cách đại trà nhưng nhìn tổng thể thì tôi vẫn đồng ý một phần với định hướng của Bộ Công an. Vì đây là hướng sửa đổi phù hợp hơn với yêu cầu cân bằng giữa bảo vệ lợi ích công và bảo đảm hoạt động nghề nghiệp của LS đặc biệt nghiêm trọng, có căn cứ rõ ràng và nguy cơ xảy ra hậu quả ở mức cao, đồng thời phải đi kèm với tiêu chí pháp lý cụ thể để bảo đảm tính khả thi. Một khi LS không còn là nơi thân chủ có thể nói thật thì công lý cũng sẽ không còn được tiếp cận một cách đầy đủ. Và khi đó, tổn thất không chỉ thuộc về nghề LS, mà thuộc về chính nền tư pháp. LS NGUYỄN VĂN ĐỈNH, Đoàn LS TP Hà Nội: Có thể làm thay đổi hoạt động nghề nghiệp luật sư Nếu đề xuất nêu trên được thông qua, có thể dẫn đến sự thay đổi trong tố tụng hình sự tại Việt Nam: LS sẽ phải cực kỳ thận trọng trong các buổi tiếp xúc với thân chủ và cần có điều khoản miễn trừ trách nhiệm rõ ràng trước khi trao đổi: “LS chỉ bảo vệ anh/chị đối với những hành vi đã bị khởi tố; nếu anh/chị tiết lộ về một kế hoạch phạm tội mới, LS sẽ buộc phải tố giác”. Mối quan hệ giữa LS và thân chủ rất có thể sẽ “rạn nứt” ngay từ đầu bởi một điều khoản miễn trừ trách nhiệm như thế. LS vẫn là “đồng minh” đối với những gì đã xảy ra trong quá khứ; ngược lại, LS lại trở thành “giám sát viên” đối với những gì sắp xảy ra. Điều này hoàn toàn có thể tạo ra một tâm lý phòng vệ kép. Thân chủ không chỉ đề phòng điều tra viên mà còn phải lọc thông tin khi nói chuyện với LS. Sự tin cậy tuyệt đối vốn là linh hồn của nghề LS, sẽ bị suy yếu và thay thế bằng một mối quan hệ hợp đồng có điều kiện, ràng buộc rõ ràng. Đối với LS, đề xuất này nếu được thông qua cũng sẽ đẩy LS vào thế khó: Thứ nhất, nếu LS không đưa ra điều khoản loại trừ và vô tình nghe thân chủ kể về một kế hoạch phạm tội mới, rồi sau đó LS đi tố giác, thân chủ sẽ phải chịu chế tài (nếu có) dựa trên thông tin từ chính người bảo vệ mình. Thứ hai, nếu LS nghe thấy nhưng không tố giác, LS có thể trở thành tội phạm. Hệ quả, sẽ có không ít các LS phải soạn thảo sẵn “cam kết tiếp nhận tư vấn”, trong đó ghi rõ điều khoản miễn trừ trách nhiệm của LS nếu phát hiện thân chủ chuẩn bị phạm tội. trong bối cảnh phòng ngừa tội phạm” - PGS-TS Trịnh Duy Thuyên nói.•

RkJQdWJsaXNoZXIy Mjg2ODExMg==